TÀM LÀ GÌ?
Tàm là gì và nó mang ý nghĩa gì thì sau đây chúng tôi sẽ giải nghĩa cho quý đại chúng cùng hiểu về từ này!
Thank you for reading this post, don't forget to subscribe!Tàm là sự e ngại dè dặt đối với tội lỗi, theo đó lương tâm lên tiếng nhắc nhở bản thân ghê sợ và tránh xa điều không thiện. Người không can tâm làm những việc liên quan đến tội lỗi khiến lương tâm bị cắn rứt. Nhận thấy rõ điều đó, người không cho phép bị cám dỗ bởi các pháp bất thiện đồng thời nói lên ý định hoặc đưa ra quyết định của mình trong việc hành xử mà lương tâm cho phép. Tàm nói lên tâm niệm hân hoan trong việc nhận biết tội lỗi và khao khát suy xét xem việc sắp làm hay sắp quyết định có ảnh hưởng đến thực tập đạo đức hay phẩm giá con người. Tội lỗi chưa làm nên chưa xảy ra và nhờ có tàm, tội lỗi được ngăn chặn. Sự e ngại là nguyên nhân cho việc bất thiện không phạm phải và đến việc thiện hơn, nhưng cũng cần hiểu không làm việc ác cũng có nghĩa làm việc thiện. Đi trên đường không phạm luật giao thông có thể cho là tuân thủ luật giao thông dù người này không am tường về luật lắm. Tính e ngại hiển thị một lựa chọn. Người lắng nghe tiếng gọi của lương tâm, biết hậu quả có thể xảy ra. Tuy nhiên, chính ngại khuyến khích làm việc lành vì biết kết quả của nó. Tàm còn nói lên tính khiêm tốn, tức là sự dè dặt trước những lời khen và không sa vào việc tự tán thán mình. Khiêm tốn hay còn gọi khiêm cung đề cao tính khiêm nhường, đam mê học hỏi. Hơn nữa do e ngại những nguy hiểm có thể đến do sự kiêu ngạo, khoe khoang hay chấp vào bản ngã. Khi tàm nổi trội, người né tránh từ xa những tội lỗi nhưng không có nghĩa là trốn chạy mà vì biết rõ nên tránh. Cha mẹ khuyên con trẻ không chơi đùa với lửa vì tác hại của nó và ý thức chưa rõ ràng của trẻ thơ nhưng họ không có trốn chạy lửa, họ vẫn sử dụng lửa để nấu nướng hàng ngày. Người e dè điều sai nhưng không lên án, chỉ trích điều đó và người phạm sai lầm. Nếu lên án và chỉ trích, người sẽ rơi vào ác ngữ, phục vụ cho lời nói bất thiện. Chỉ cần chỉ ra làm như vậy là bất thiện, cần thực tập để chuyển hóa các ý muốn làm việc bất thiện, không những giúp người có thêm tin tưởng mà còn xa lánh điều bất thiện một cách an lạc. Người thực hiện những hành vi tránh xa sự nghi ngờ hay làm người khác mất niềm tin nơi mình. Anh A không phạm tội ăn cắp nhưng cách nói chuyện và bộ vó của anh khiến người ta nghi ngờ. Nên anh cần thực tập để có cách nói chuyện hay dáng vẻ đáng tin cậy hơn. Cũng vậy, một tu sĩ nói chuyện với nữ giới ở nơi vắng người hay người khác không nghe thấy dễ bị mất niềm tin. Muốn xây dựng niềm tin, tu sĩ phải giữ giới và thực tập uy nghi không sao nhãng. Có những việc không phải là điều bất thiện nhưng khi làm chúng lại gây sự nghi ngờ cho người khác. Như tu sĩ nói chuyện với nữ giới không có gì sai trái, nhưng người khác không nghe được câu chuyện của họ sẽ nghĩ họ đang bàn tính chuyện không hay. Giới luật vì thế cấm tu sĩ nói chuyện với nữ giới nơi vắng vẻ để bảo hộ tu sĩ không bị nghi ngờ và tránh cho người thế gian không phát tâm nghi ngờ có thể tự tạo nghiệp xấu cho họ. Tính nghi ngờ nếu không được chuyển hóa sẽ dẫn đến nghiệp xấu rất nhanh như bản thân người nghi ngờ có sự bất an và nhiều khi đi bêu xấu tu sĩ về việc mình không biết rõ hoặc phỉ báng Phật pháp. Từ việc nghi ngờ không đáng có làm cho ác nghiệp phát sinh nên nói nghi là một trong nguyên nhân gây phiền não là như vậy. Tu sĩ phạm giới khiến người khác mất niềm tin cũng thế vì người sẽ xa việc làm thiện mà đi lại con đường bất thiện một khi không còn tin vào điều lành nữa. Cho nên tu sĩ phải dè dặt trong các điều kiện có thể làm cho phạm giới và không được dễ duôi bất cứ trường hợp nào. Giới luật là bức tường lửa bảo vệ tu sĩ không chỉ tránh khỏi những điều nhiễm ô mà còn xây dựng niềm tin nơi người thế gian để họ có thể nương tựa mà tu tập. Tu sĩ này chưa thuyết pháp hay làm gì hết đã cứu độ được chúng sanh rồi. Chính sự tu tập của bản thân là hành trang cứu độ chúng sanh hay nhất. Tàm kêu gọi người thực tập tám con đường chân chính, hành trì giới luật, tham thiền và tụng kinh liên tục không ngừng nghỉ. Sự vững chãi hiện rõ trên nét mặt, tướng đi giọng nói và cách hành xử. Không cần nhắc đến hay quảng cáo, người khác vẫn biết. Tính khiêm nhường giúp người được an toàn, dù không muốn đứng ở vị trí cao nhưng thực chất người đang ở đỉnh cao. Làm tu sĩ đừng bao giờ có tham vọng nổi tiếng hay làm chức vụ cao, vì như thế bản thân không có đủ thời gian để thực tập, nói chi đến cứu độ chúng sanh. Đức Phật ví tàm như dàn xe và các phụ tùng kết nối giúp người kỵ binh đứng vững, không bị ngả nghiêng hay rớt xuống đất. Tàm làm niềm tin thêm vững chắc, biết rõ con đường giác ngộ dù ngoằn ngoèo cách mấy cũng làm nó thẳng tắp được. Tàm trở nên vững mạnh nếu người thực tập liên tục, gần gũi các thiện tri thức, nghiên cứu giáo lý, hiểu rõ hạnh phúc và khổ đau đích thực, ghê sợ tội lỗi và gìn giữ khiêm cung. Thực tập liên tục rất quan trọng vì sự tiến bộ và thành công không có mặt ở người lười biếng hay bảo thủ. Ý thức cơ thể mang các yếu tố của cha mẹ, ông bà, tổ tiên và dân tộc nên thực tập là thực tập cho tất cả người thương và đất nước. Con cái là niềm tự hào của cha mẹ và tổ tiên. Ý thức tuổi càng cao, kinh nghiệm càng nhiều nên càng phải làm gương cho người trẻ để xứng đáng là thiện tri thức. Không phải ai cũng là thiện tri thức nhưng nếu tất cả đều như vậy, không phải rất tốt hay sao. Ý thức kinh điển cung cấp các lời dạy thực tập hạnh phúc nên học hỏi để áp dụng vào thực tiễn nhằm xây dựng bản thân và xã hội an toàn, lành mạnh, đồng thời tạo ra sự kế thừa đạo đức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ý thức hạnh phúc đích thực đem lại hòa bình và đau khổ đích thực đem lại chiến tranh, người không quên thực tập hạnh phúc và chuyển hóa khổ đau, đem lại nguồn an lạc lâu dài trên thế gian. Ý thức tội lỗi chỉ có thể làm biến chất xã hội nên người nói lên sự thật của tội lỗi để tránh và không chạy hay dính mắc vào chúng. Ý thức rằng tính khiêm cung giúp học hỏi mọi tuệ giác trên đời nên người lắng nghe mọi quan điểm và luôn soi rọi bản thân để tiến bộ. Tất cả các ý thức này làm cho tàm vững mạnh, hun đúc niềm tin và vững chãi trong việc thực tập hạnh phúc. Chánh niệm về tàm làm gia tăng nghị lực để chuyển hóa và vượt qua những cám dỗ của tà dục. Nghị lực mang hạnh phúc rõ rệt khi khổ đau không đủ năng lực xâm chiếm. Người có thể chịu đựng những nỗi đau và không để nỗi đau xâm chiếm. Nỗi đau là hiện tượng có thật nhưng thay vì đàn áp nó, người ôm ấp và chuyển hóa nó. Nghị lực mới làm nổi chuyện này và khi thuần thục, người an nhiên với nỗi đau và không còn sợ hãi gì nữa. Tu sĩ là một người chiến sĩ, chịu đựng được tiếng la hét, không bị thương khi giáp trận và vì đựng được bụi mù, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu vậy đã thắng trận trở về oanh liệt. Nghị lực làm công việc liên tưởng đến hòa bình, niềm vui, sự hân hoan, phát khởi khả năng chiến đấu, kiên quyết xung trận và tiêu diệt kẻ địch. Nghị lực có sự rèn luyện và chỉ có đi lên không đi xuống. Chánh niệm liên tục, người biết rõ nghị lực của mình như thế nào, đi lên, đi xuống hay vẫn nằm im. Tàm đóng vai trò tối ưu trong việc xây dựng nghị lực và cũng cố niềm tin. Chánh niệm về tàm để biết nghị lực của mình đến đâu để rèn luyện và vun bồi cho nó, tội lỗi không còn chỗ để xông lên và hạnh phúc có cơ hội ngập tràn.
Tâm ghê sợ tội lỗi
Làm điều thiện đâm chồi
Cho lương tâm lên tiếng
Hân hoan đến từng hồi.
Niềm tin được xây đắp
An lạc bay cùng khắp
Xóa bỏ hết nghi ngờ
Nương tựa nhau tu tập.
Tám con đường chân chính
Vững chãi trước sự tình
Tiến bộ trong khiêm nhường
Hạnh phúc luôn theo mình.
Hãy gia tăng nghị lực
Chuyển hóa những năng lực
Vượt qua mọi cám dỗ
Thành con người mẫu mực.
-Qúy đại chúng nghe thêm truyện audio phật giáo tại đây / https://daogiuadoithuong.com/category/nghe-truyen-phat-giao/
-Qúy đại chúng xem thêm video youtube tại đây / https://youtu.be/Yw0bKnail1w
TÀM LÀ GÌ?


