NGHĨA CỦA TỪ (NIỆM) TRONG PHẬT GIÁO

NGHĨA CỦA TỪ NIỆM TRONG PHẬT GIÁO

NGHĨA CỦA TỪ NIỆM TRONG PHẬT GIÁO

NGHĨA CỦA TỪ NIỆM TRONG PHẬT GIÁO sẽ được chúng tôi giải nghĩa một cách rõ ràng dễ hiểu để cho quý đại chúng không còn mơ hồ nữa. Niệm còn gọi là chánh niệm, nghĩa là ghi nhớ, kiểm soát đối tượng, giúp các pháp đồng sanh không bỏ quên đối tượng. Chánh niệm giúp ta sống sâu sắc trong hiện tại, quán chiếu những mầu nhiệm của sự sống biết được điều đang diễn ra bên trong và bên ngoài cơ thể. Niệm là một trong những chi phần của tám con đường chân chánh, theo đó nhờ có niệm mà định và huệ phát sinh. An trú trong niệm, ta tiếp xúc được hạnh phúc hay khổ đau, nắm bắt nguyên nhân gây ra chúng và chuyển hóa cả hạnh phúc và khổ đau. Niệm không có nghĩa là tụng kinh hay đọc lầm rầm khấn vái mà niệm là ghi nhớ đến suy nghĩ, hành động, lời nói và các sự kiện đang diễn ra một cách đơn thuần. Khi tụng kinh biết mình đang tụng kinh, tâm duyên theo từng câu chữ và quán chiếu lời kinh dạy, đó là tụng kinh có chánh niệm. Niệm là thuộc tánh của tâm thanh tịnh nên nói niệm dẫn đến định hay thanh tịnh và nói người thanh tịnh luôn an trú trong niệm cũng không hề sai. Ta làm chủ mình, nhận biết đối tượng nhưng không bị các đối tượng lôi kéo và gây chìm đắm. Ngược lại, các đối tượng lôi kéo thành công, ta đã buông lung cho sự phóng dật hay phóng tâm, không còn sống trong thời khắc hiện tại nữa. Người ăn mặn quá nhiều để trái tim đập nhanh và co thắt dữ dội nhưng vì các món ăn hấp dẫn cùng sở thích ăn mặn khiến họ không đủ khả năng cưỡng lại cám dỗ. Người này không có chánh niệm trong ăn uống. Tâm biết về cảnh là tâm có niệm còn tâm biết cảnh một cách hời hợt là tâm thất niệm. Hời hợt không có nghĩa nhận diện đơn thuần mà lại là khả năng dính mắc, thờ ơ và buông trôi cảnh rất lớn. Giống như người ăn thức ăn mặn làm tim bị co thắt, biết vậy nhưng vẫn tiếp tục ăn, đây chính là người có niệm hời hợt vì không biết tính chất bất thiện của cảnh và thân. Chú ý đến cảnh và biết cảnh khác với việc tập trung hay an trú trong cảnh. Nhận diện đơn thuần nói nôm na biết vậy và hay vậy, không nhận xét, không phản ứng cũng không thờ ơ. Nếu có sự nhận xét và phản ứng, tâm làm cho cảnh méo mó, và nếu có sự thờ ơ, tâm không đồng thuận với cảnh, mọi thứ này đều làm cho thất niệm xảy ra và ta không thể an trú trong hiện tại. Chánh niệm kiểm soát được tâm không cho nó chạy tới chạy lui mà chỉ chú ý với điều đang diễn ra trước mắt. Con người tự làm khổ bản thân vì chiều theo tính rong ruổi của tâm, nhưng kỳ thực khi tính rong ruổi được nhận biết, họ có chánh niệm ngay tức khắc và trở về với hiện tại. Ghi nhận cảnh hay các đối tượng liên tục làm cho tâm hết rong ruổi nhưng không quá sức ghi nhận một cách chi tiết vì niệm cũng chỉ là niệm, niệm nhiều khi cũng không thể bị kẹt vào. Niệm đến lúc thuần thục, niệm trở thành như không niệm. Tâm không chạy theo nhiều đối tượng cùng lúc mà chúng diễn ra theo một chuỗi giống như chuỗi sự kiện, nhưng vì các đối tượng đan xen lẫn nhau rất nhanh nên cứ nghĩ chúng xảy ra cùng lúc. Người để cho các đối tượng đan xen trong thời gian ngắn sẽ dẫn đến tình trạng căng thẳng, tâm thần hay đãng trí vì đã bị các đối tượng chi phối. Con người có quyền làm nhiều việc cùng lúc nhưng phải chánh niệm yếu tố công việc đang làm và không bị kẹt vào khối công việc kia. Nhiều việc nhưng đụng đến tiểu tiết công việc có niệm, ta vẫn có niệm như thường và làm nhiều việc một cách thoải mái. Thực tập quán chiếu đòi hỏi thân tâm chánh niệm cao độ vì có khi quán chiếu làm người ta xa rời hiện tại, dẫn đến suy diễn và rơi vào tri giác sai lầm lúc nào không hay, lúc này niệm mang yếu tố của thất niệm. Con người thực tập niệm chưa bao giờ đủ so với tình trạng thất niệm của họ. Có người thất niệm cả đời nên hành động cũng vậy, thường xuyên sai trái và dễ gây tội ác. Niệm liên tục sẽ không làm các pháp bất thiện phát sinh và xem thiện hay bất thiện như nhau, tạo ra tâm bình đẳng. Ta có thói quen ham thích điều thiện và chán ghét bất thiện. Điều này nghe có vẻ tốt, nhưng nếu nói đến người tốt thì thích và người xấu thì ghét, âu là không đúng với tinh thần từ bi của đức Phật lắm. Niệm dung hòa cả thiện và bất thiện hay người tốt và người xấu. Nhìn điều bất thiện để thấy cái thiện và nhìn người xấu để thấy cái tốt. Điều bất thiện chưa thiện thôi và người xấu chưa tốt thôi chứ không phải họ không bao giờ thiện hay tốt. Niệm giúp ta không còn phân biệt giữa thiện và bất thiện, tốt hay xấu, đẹp đẽ hay ghê sợ. Niệm trong thiền chỉ giúp cho tâm nhận biết đối tượng liên tục, ghi nhớ đối tượng không quên lãng và đạt khả năng định từ đó. Trường hợp niệm Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Quan Thế Âm là đối tượng của thiền chỉ, hành giả ghi nhớ đối tượng và có định trên đối tượng, từ đó phát sinh huệ Bồ Tát Quan Thế Âm là bồ tát nhẫn nhục, bồ tát từ bị, bồ tát lắng nghe, bồ tát dễ chịu nên nguyện học hỏi và thực tập các hạnh này của Bồ Tát Quan Thế Âm, đồng thời khi tiếp xúc với bản thân hay những người biết nhẫn nhục, từ bị, lắng nghe hay dễ chịu thì họ đều là Bồ Tát Quan Thế Âm hết. Niệm trong thiền quán có tác dụng nhận diện các pháp thiện và bất thiện nhưng không dính mắc hay tham cầu bất cứ điều thiện hay bất thiện nào. Nhận diện chỉ để nhận diện và cho dù thiện hay bất thiện đều phải buông bỏ. Niệm làm buông bỏ, tan chảy hay biến mất các ý niệm phân biệt về thiện hay bất thiện. Vị tu sĩ thực tập niệm nhiều khi lại ôm ấp pháp bất thiện không phải tham đắm mà để chuyển hóa nó thành ra điều thiện, điều xả hay nguồn an lạc. Một bệnh nhân nếu biết cách niệm vẫn có thể sống chung an lạc với căn bệnh, không phải đẩy nó ra xa hay có hành vi bạo động với bản thân. Chánh niệm về niệm biết mình đang niệm. Nói vậy không phải ngộ nghĩnh vì cũng có người thất niệm về niệm, nên cũng có chánh niệm nhưng không đúng nên chỉ biết niệm sầu khổ và âu lo trong khi hạnh phúc và an lạc không niệm. Cuốn Hơi Thở Tinh Khôi của Minh Thạnh nói rõ niệm hòa bình sẽ có hòa bình và niệm chiến tranh sẽ có chiến tranh. Mình trở thành cái mình niệm nhưng nhận diện chiến tranh khiến ta tiếp xúc với hòa bình, kỳ lạ đến như vậy. Người có niệm trước hết đem niềm vui đến cho bản thân, sau đó những người xung quanh và hằng hà sa số chúng sinh. Năng lượng của niệm tỏa khắp cơ thể, lấp đầy không gian và thời gian và biến ta thành một vị Phật không sai khác. Chánh niệm là Phật và thất niệm là ma vương. Nói vậy tất cả các đối tượng trong đời sống hàng ngày đều trở thành những người bạn tu, cho dù đối tượng đó là hoa hay rác. Có chánh niệm về hoa và có chánh niệm về rác đều đưa con người vào thế giới của hiện tại. Ngay cả việc ghi nhớ quá khứ hay tương lai trong hiện tại cũng là cách thực tập đúng đắn về niệm. Niệm không thiện cũng không bất thiện mà là yếu tố của tâm thanh tịnh, nhưng tâm thanh tịnh là bản chất con người nên bất cứ ai cũng có khả năng của niệm, định và tuệ. Niệm được thực tập suốt ngày và ta có thể thiền quán suốt ngày. Đi, đứng, nằm, ngồi đều có thể niệm được và bệnh tật hay khỏe mạnh cũng đều niệm như thường. Người đời hay đổ thừa cho sự bận rộn không thể tập thiền được, nhưng khi niệm về bận rộn thì dù bận rộn cách mấy cũng không thấy bận rộn. Niệm liên tục khiến cho sự dễ chịu có mặt suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày và bản thân trở thành Niết Bàn hay Cực Lạc vì niệm làm cho không tham đắm hay dính mắc vào bất cứ cái gì gọi là Niết Bàn hay Cực Lạc. Niệm làm cho bây giờ và ở đây trở nên rõ ràng nên không chạy theo cảnh hay bất cứ đối tượng nào.

Thank you for reading this post, don't forget to subscribe!

-Nghe truyện audio phật giáo tại đây https://daogiuadoithuong.com/category/nghe-truyen-phat-giao/

– Xem video trên kênh youtube tại đây https://www.youtube.com/channel/UC2z-nVEAQreKwT_SykumZxw

NGHĨA CỦA TỪ NIỆM TRONG PHẬT GIÁO

Contact Me on Zalo
Trang web này sử dụng cookie để mang đến cho bạn trải nghiệm duyệt web tốt hơn. Bằng cách duyệt trang web này, bạn đồng ý với việc chúng tôi sử dụng cookie.