Nghĩa Từ Huệ Trong Phật Giáo

Nghĩa Từ Huệ Trong Phật Giáo

Nghĩa Từ Huệ Trong Phật Giáo

Nghĩa Từ Huệ Trong Phật Giáo : Huệ là sự sáng tỏ, không còn nghi ngờ đối với cảnh sau khi suy xét. Sự nhận biết và hiểu rõ bản chất của cảnh và không còn dính mắc vào cảnh nữa nhưng không ghê sợ, ruồng bỏ hay chê bai cảnh. Tâm sở Huệ làm nhiệm vụ soi sáng và phản ảnh các pháp vào trong các thức cho tâm sở Xúc tiếp nhận. Lúc này, tâm mới tiếp xúc được với cảnh trần. Các thức làm được nhiệm vụ của mình do sự trình diện của huệ và xúc tiếp nhận cảnh trước đó. Nhìn hoa cúc, huệ biết là hoa cúc và tâm tiếp xúc với hoa cúc nhờ vào xúc. Khi huệ chiếu soi và thâu cảnh, các thức tiếp xúc được với các pháp. Điều này tương tự như vậy với tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sự chiếu soi của các thức được hiển lộ và là kết quả của việc tiếp xúc với cảnh một cách rõ ràng. Nhìn vào mắt của một người, ta có thể nhìn thấy hình ảnh mà người đang nhìn. Hình ảnh đó là sự hiển lộ của cảnh trên mắt, là công việc của huệ và xúc giúp tâm tiếp xúc với hình ảnh đang nhìn. Huệ tức là vô si – amoha có nghĩa thông minh sáng suốt. Sự thông minh không như người đời thường nghĩ là khả năng học giỏi, kiếm nhiều tiền và địa vị cao trong xã hội. Con người nhìn thấu rõ sự vật, biết tính chất vô thường của nó nên không bị bất cứ thứ gì lôi kéo, đó là sự nhận biết hiểu rõ chân chánh. Chân lý bị dốt nát, si mê, lầm tưởng che lấp tháng ngày và khi màn đêm u tối được thắp sáng bởi huệ, ta niềm an lành. Người hút thuốc, biết tác hại của thuốc lá không còn sau khổ hay đau đớn nữa mà chỉ có hạnh phúc và có người chỉ cho nhưng không tin, rất muốn tin nhưng bị cái nhưng không đủ can đảm để vứt bỏ nên mãi làm nó lệ cho nó, mê làm cuốn trôi mất. Nhưng khi bỏ thuốc được, người cảm thấy mừng vui và khỏe hơn nhiều. Sự thông minh của người đời mang tính chất trá hình con mắt, tai, còn sự thông minh của người tu mang tính chất chân chính. Ta thường thích đánh giá sự thông minh bằng mũi, lưỡi, thân, ý và bị chúng che mờ đi, không làm chủ được mình. Sự thông minh Bát Nhã hay trí huệ Bát Nhã biết rõ kết quả của hiện tại là do nghiệp của các đời quá khứ và nhân của hiện tại sẽ tạo ra các quả của tương lai. Huệ nhận biết con người có sự tiếp nối, không sinh cũng không diệt, và không chủ trương đoạn diệt hay đoạn sinh. Người cho rằng chết hà hết nên đời sống hiện tại mặc sức tạo nghiệp xấu, sau phải trả nghiệp mãi không thôi và cái nghiệp đó nhiều lúc quến vào con cháu của họ. Người tin vào khoa học quá mức nhưng không hề biết thành tựu khoa học cũng là kết quả của nghiệp vì khi nghiệp tốt trổ quả, khoa học phát triển mạnh và khi nghiệp xấu trổ quả, khoa học bị chùng lại và trong một số trường hợp khoa học mang tai họa cho con người. Huệ thấu rõ được sự thật, không buông lung hay dễ vui với sự thật và sử dụng sự thật chứng minh cho sự thật. Sự thật cho thấy con người đầy dẫy những đau khổ, thích tích lũy đau khổ, thờ ơ với thực tại đau khổ và dính mắc vào đau khổ. Nhưng sự thật cũng có nghĩa là hạnh phúc, thanh tịnh, an lành, nhẹ nhàng, tinh khiết và dễ chịu. Hai sự thật này thực chất là một vì trong khổ có vui và trong vui có khổ. Hiểu biết sự thật, con người có huệ và sử dụng huệ đó để chuyển hóa khổ đau, xây dựng hạnh phúc chân chính. Trí thông minh ô nhiễm không phải là huệ Bát Nhã mà là trí thông minh thế gian, đó là sự thật đau khổ. Trí thông minh sạch sẽ là huệ Bát Nhã, là trí thông minh xuất thế gian, đó là sự thật hạnh phúc. Huệ theo Pali là Panna và theo tiếng Phạn là Prajna có nghĩa trí tuệ Bát Nhã. Con người thường chấp vào có hoặc không, trong khi người chứng huệ Bát Nhã biết không có cũng không không. Như nói về con mắt, tự tính của nó là không sinh cũng không diệt. Khi nhân duyên hội đủ, con mắt có mặt, khi nhân duyên thiếu thốn, con mắt vắng mặt. Con mắt không từ đâu tới và cũng không sinh về đâu, nên nói con mắt có cũng không đúng và nói con mắt không cũng không đúng. Vậy nói con mắt có cũng được, con mắt không cũng được, không sao, không chấp vào ngôn ngữ hay hình tướng. Con mắt chẳng qua là tên gọi của tánh không, đặt ra cho dễ giao tiếp, vậy thôi. Người đời sử dụng trí thông minh nhằm mục đích thỏa mãn dục vọng và chất chứa đau khổ nhưng không hề biết điều đó. Xây dựng một hệ thống và tập thể cuồng tín, khủng bố rồi cho là thông minh. Làm giàu đến nỗi tiền đè chết người rồi cho là thông minh. Tranh cử tổng thống hay thủ tướng để làm nguyên thủ quốc gia rồi cho là thông minh. Thông minh được đặt ra tiêu chuẩn ở hệ thống IQ EQ hay SQ. Thậm chí có người hỏi tu sĩ IQ của họ là bao nhiêu và đánh giá trí thông minh của tu sĩ dựa trên IQ? Con người bị ảnh hưởng bởi xã hội được xây dựng trên cơ sở của trí thông minh giả tạo nhiều hơn trí thông minh chân chính. Trong khi đó, người tu có thể không thể giải nổi một bài toán đại số nhưng có thể giải nổi hằng hà sa số các bài toán khổ đau vì họ sử dụng huệ chân chính của bản thân. Huệ này không ai có thể dạy và đem vào định lý để áp dụng cho việc giải đáp mà do chính người tu sĩ tu tập, chứng ngộ và áp dụng. Trí thông minh giả dạng bị tâm sở dục bất thiện làm chủ và khống chế nên nhìn người có nhan sắc, ăn mặc đẹp cho là người đẹp hoàn hảo. Sự chân chính không nói như vậy vì người tu cũng chạy theo cái đẹp nhưng cái đẹp này là nét đẹp tâm hồn, lòng vị tha và hạnh phúc chân thật, còn cái đẹp bên ngoài biết là đẹp đấy nhưng không dính mắc vào nó. Người có tài chưa chắc có huệ và chánh niệm về huệ biết cái tài đó chẳng qua là sự biểu hiện của nghiệp tốt, nên càng thực tập khiêm cung, thường xuyên soi sáng bản thân Khoe khoang về cái tài chỉ làm cho huệ mai một và đến lúc nào đấy huệ cũng thành ra giả tạo luôn. Huệ mang tính chất của khiêm cung, sử dụng huệ để tu tập và làm cho bản thân trở nên khiêm cung hơn. Bất cứ hành vi không khiêm nào cũng đều đồng nghĩa với ái dục và dung chứa ái dục. Người có học thức cao chưa chắc có huệ và thực tập chánh niệm biết rằng bằng cấp, tri thức hay khoa học không hề minh chứng cho việc giải quyết những khổ đau của con người. Người này nếu nhận thức việc học vấn cao chẳng qua chỉ là kết quả của những nhân tốt trong quá khứ cũng như hiện tại và bây giờ gặt hái. Sự nhận thức này là biểu hiện của huệ nên lại tiếp tục tu tập để tạo nhân tốt nữa, nhưng hay hơn cả là việc tạo nhân tốt ngày hôm nay thoát, không chỉ nhằm vào con đường học thức cao trong tương lai. Người có trí thông minh thế gian biết tu sẽ đạt huệ xuất thế gian nhanh chóng nhưng nếu không biết tu sẽ làm trí thông minh kia trở thành bản chất của phá hoại. Giống như người thông minh chế tạo các phương thức bảo vệ môi trường sẽ giúp cho địa cầu không biết bao nhiêu, nhưng người sử dụng trí thông minh chế tạo các loại bom sẽ hủy diệt con người cũng không biết bao nhiêu mà kể Người tu có niệm và định, huệ sẽ phát triển và dĩ nhiên huệ không phải là thứ người ta chế ra mà là thứ tìm về. Huệ đã có sẵn từ lâu, chỉ vì vô minh, thất niệm, tham, sân, si, mạn, nghi, kiến… mà làm cho nó bị che khuất. Bầu trời âm u vì mặt trời bị mây che phủ, nếu mây tan bầu trời xuất hiện, vạn vật chan hòa nắng. Cũng vậy, con người bị vô minh che lấp nên huệ không thể bừng sáng được, chỉ khi nào niệm và định vừa đủ, huệ sẽ soi sáng bản thân. Một đứa trẻ vẫn có huệ dồi dào hơn người lớn hay người già rất nhiều. Người già mà vô minh thì chẳng bằng một đứa trẻ, có khi phải nghe một đứa trẻ thuyết pháp và học hỏi từ một đứa trẻ. Người già thông thường chỉ thích đánh giá, nhận xét và bị kẹt vào mớ kiến thức hỗn độn không biết bao giờ có thể thoát ra được. https://daogiuadoithuong.com/

Thank you for reading this post, don't forget to subscribe!

xem video youtube

Nghĩa Từ Huệ Trong Phật Giáo

Contact Me on Zalo
Trang web này sử dụng cookie để mang đến cho bạn trải nghiệm duyệt web tốt hơn. Bằng cách duyệt trang web này, bạn đồng ý với việc chúng tôi sử dụng cookie.